• Trường Quốc tế song ngữ hàng đầu ở Việt Nam

    Lựa chọn hàng đầu về trường Quốc tế cho những gia đình tham vọng ở Việt Nam

    DSC04340

  • Chương trình giảng dạy Quốc tế độc đáo bằng tiếng Anh và tiếng Việt

    Trường song ngữ duy nhất tại Việt Nam có chương trình giảng dạy quốc tế

    DSC08444

  • Đội ngũ tuyển sinh thân thiện và dày dặn kinh nghiệm

    Chuyên viên tuyển sinh nói tiếng Việt và tiếng Anh sẽ nhiệt tình tư vấn, dẫn các chuyến tham quan Trường và hỗ trợ các em thực hiện các bài kiểm tra

    _KC_2999

  • Học sinh chăm chỉ và hiếu học

    Học sinh trường BVIS tốt nghiệp được nhận vào các trường Đại học tốt nhất ở khắp nơi trên thế giới

    DSC_4853

  • Phụ Huynh Việt Nam có sự cam kết cao với nền giáo dục chất lượng

    Phụ Huynh của trường coi trọng văn hóa Việt Nam bên cạnh chất lượng giáo dục quốc tế hàng đầu

    _KC_2161

  • Đội ngũ giáo viên có bằng cấp và kinh nghiệm quốc tế

    Tất cả giáo viên trường BVIS đều có bằng cấp và được xác nhận có đủ kinh nghiệm giảng dạy

    DSC_2557

  • Một trường Quốc tế sôi nổi và sống động

    Trường BVIS cung cấp một môi trường quốc tế sôi nổi nhưng vẫn tôn trọng văn hóa VIệt Nam

    IMG_2659

  • Đội ngũ nhân viên văn phòng chuyên nghiệp và kinh nghiệm

    Nhân viên song ngữ trường BVIS luôn hân hạnh được hỗ trợ Quý phụ Huynh với bất kỳ thắc mắc nào.

Cách ngôn ngữ thay đổi thế giới quan của bạn

  • DSC_9353

Những người sử dụng song ngữ thường được hưởng rất nhiều đặc quyền. Triển vọng công việc tốt hơn, sự gia tăng nhận thức và giảm tình trạng mất trí nhớ khi về già. Các nghiên cứu hiện nay cho thấy con người có thể nhìn nhận thế giới quan theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào ngôn ngữ cụ thể mà họ đang sử dụng.

Trong 15 năm qua, đã có rất nhiều nghiên cứu về trí não của người sử dụng song ngữ, với phần lớn các bằng chứng chỉ ra những lợi ích hiển nhiên khi sử dụng nhiều hơn một ngôn ngữ. Việc chuyển đổi qua lại giữa các ngôn ngữ giống như một hình thức rèn luyện não bộ, thúc đẩy não bộ trở nên linh hoạt hơn.  

Cũng như việc tập thể dục thường xuyên mang đến một số lợi ích sinh học cho cơ thể, việc kiểm soát hai hay nhiều ngôn ngữ mang lại những lợi ích về nhận thức cho não bộ. Trí óc minh mẫn là một lợi ích tuyệt vời, đặc biệt cho cuộc sống về sau: những dấu hiệu điển hình của sự lão hóa nhận thức xuất hiện muộn hơn ở những người sử dụng song ngữ - và các bệnh rối loạn hay lão hóa thần kinh do tuổi tác như bệnh mất trí nhớ hoặc Alzheimer, xảy ra chậm hơn đến 5 năm đối với người sử dụng song ngữ.

Người Đức biết nơi họ đang đến

Trong một nghiên cứu gần đây được xuất bản trên tạp chí Khoa học Tâm lý, nghiên cứu này tập trung vào những người sử dụng song ngữ Đức – Anh và những người chỉ sử dụng một ngôn ngữ để tìm hiểu các hình thức sử dụng ngôn ngữ khác nhau có ảnh hưởng thế nào đến cách phản ứng của những người tham gia thí nghiệm.

Chúng tôi cho những người sử dụng song ngữ Đức – Anh xem một đoạn phim ngắn có các hình ảnh chuyển động, như một người phụ nữ đang đi về phía một chiếc xe hơi hay một người đàn ông đang đi xe đạp đến siêu thị và sau đó yêu cầu họ mô tả lại cảnh tượng.

Khi người sử dụng tiếng Đức đơn ngữ xem cảnh này sẽ có khuynh hướng mô tả không chỉ hành động mà cả mục tiêu của hành động đó. Vì vậy họ có khuynh hướng trả lời “Một người phụ nữ đi về phía xe hơi của cô ấy” hay “Một người đàn ông đi xe đạp về phia siêu thị”. Người sử dụng tiếng Anh đơn ngữ sẽ chỉ mô tả cảnh tượng đó như “Một người phụ nữ đang đi bộ” hay “Một người đàn ông đang đi xe đạp” mà không nhắc đến mục tiêu của hành động.

Thế giới quan của người nói tiếng Đức là nhìn trên một tổng thể - ho có xu hướng nhìn vào sự kiện như một tổng thể - trái lại người Anh có xu hướng xoáy sâu vào sự kiện và chỉ tập trung vào hành động.

Cơ sở ngôn ngữ học của xu hướng này dường như bắt nguồn từ cách sắp đặt hành động ở những mốc thời gian khác nhau trong các bộ ngữ pháp. Tiếng Anh đòi hỏi người nói phải nhấn mạnh những sự kiện nào đang diễn ra, bằng việc bắt buộc sử dụng từ vị –ing: “Tôi đang chơi đàn piano và tôi không thể nghe điện thoại” hoặc “Tôi đang chơi đàn piano khi điện thoại reo”. Tiếng Đức không có đặc điểm này.

Nghiên cứu trên những người sử dụng ngôn ngữ thứ hai chỉ ra mối quan hệ giữa mức độ thông thạo ngôn ngữ trong cấu trúc ngữ pháp và tần số người nói đề cập đến mục tiêu của sự kiện.

Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng nhận thấy những khác biệt giữa các ngôn ngữ khác nhau vượt ra khỏi phạm vi sử dụng ngôn ngữ, trong việc phân loại phi ngôn từ đối với các sự kiện. Chúng tôi yêu cầu người sử dụng đơn ngữ tiếng Anh và tiếng Đức xem một loạt các đoạn phim ngắn với cảnh người đang đi bộ, đạp xe, chạy bộ hoặc lái xe. Trong mỗi bộ gồm ba đoạn phim, chúng tôi yêu cầu các đối tượng quyết định xem một cảnh với một mục tiêu mơ hồ (một người phụ nữ đi bộ xuống đường hướng đến một chiếc xe đang đậu) có giống với một cảnh có mục tiêu định hướng rõ ràng (một người phụ nữ đi vào một tòa nhà) hoặc một cảnh không có mục tiêu (một người phụ nữ đi bộ trên một con đường ngoại ô).

Người sử dụng đơn ngữ tiếng Đức thường hay liên hệ những cảnh tượng mơ hồ với những cảnh tượng có mục tiêu hơn những người sử dụng đơn ngữ tiếng Anh. Điểm khác biệt này đưa đến một phát hiện cho việc sử dụng ngôn ngữ: Những người nói tiếng Đức thường tập trung hơn vào mục đích của hành động, còn người nói tiếng Anh chỉ tập trung vào hành động,

Chuyển đổi ngôn ngữ, thay đổi nhận thức

Đối với người sử dụng song ngữ, có vẻ như họ chuyển đổi giữa các quan điểm dựa trên bối cảnh ngôn ngữ mà họ tiếp xúc. Chúng tôi nhận thấy rằng tại quê hương của mình thì người Đức thông thạo tiếng Anh cũng tập trung vào các mục tiêu tương tự như bất kỳ người bản ngữ nói tiếng Đức khác. Nhưng một nhóm tương tự những người sử dụng song ngữ Đức-Anh được thử nghiệm bằng tiếng Anh ở Vương quốc Anh thì họ cũng tập trung vào hành động như người bản ngữ tiếng Anh.

Với một nhóm người khác sử dụng song ngữ Đức-Anh, chúng tôi làm cho họ chỉ nghĩ đến một ngôn ngữ trong tâm trí trong suốt bài thực hành liên hệ video bằng việc bảo họ đọc to các chuỗi số lặp lại bằng tiếng Anh hoặc tiếng Đức. Dường như việc không suy nghĩ đến ngôn ngữ này thì sẽ tự động gây ảnh hưởng đến ngôn ngữ kia.

Khi chúng tôi “chặn” tiếng Anh, những người sử dụng song ngữ đã hành động như những người Đức điển hình và xem những đoạn phim mơ hồ bằng mục tiêu định hướng hơn. Khi chặn tiếng Đức, những đối tượng sử dụng song ngữ hành động như người nói tiếng Anh và liên hệ những cảnh tượng mơ hồ và có kết thúc mở. Khi chúng tôi đột ngột chuyển ngôn ngữ của các con số làm họ mất tập trung ở giữa cuộc thí nghiệm, các đối tượng tập trung vào mục tiêu hoặc hành động tương ứng với quá trình chuyển đổi ngôn ngữ.

Những phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu khác cho thấy hành vi khác biệt ở người song ngữ phụ thuộc vào ngôn ngữ họ đang sử dụng. Ví dụ, người Ả rập Israel có nhiều khả năng liên hệ các tên Ả rập như Ahmed và Samir với những ngôn từ tích cực trong bối cảnh ngôn ngữ Ả rập hơn là trong bối cảnh tiếng Do Thái.

Mọi người cho biết họ cảm thấy như là một người khác khi sử dụng các ngôn ngữ khác nhau và thể hiện những cảm xúc nhất định với những đồng cảm khác nhau tùy thuộc vào ngôn ngữ mà họ đang sử dụng.

Khi đánh giá rủi ro, những người sử dụng song ngữ cũng có xu hướng đưa ra các quyết định kinh tế hợp lý hơn trong ngôn ngữ thứ hai. Ngược lại đối với ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, họ thường có xu hướng gạt bỏ những thành kiến sai lệch tồn tại sâu kín và mang tính tình cảm, làm ảnh hưởng khá nhiều đến cách họ nhận thức những lợi ích và rủi ro. Vì vậy, ngôn ngữ mà bạn sử dụng thực sự có thể ảnh hưởng đến cách bạn suy nghĩ.

Chia sẻ trang này:

Share